Cách Lựa chọn công nghệ lò nung gạch tuynel mới tại Việt Nam

Gạch nung là vật liệu xây dựng truyền thống chiếm vị trí quan trọng trong tám loại vật liệu xây dựng cơ bản (xi măng, vôi, gạch ngói, cát đá sỏi, tre gỗ, sành sứ, sắt thép và kính xây dựng). Theo số liệu điều tra sơ bộ của Hội Xây dựng Việt Nam: Năm 2000 sản lượng gạch nung khoảng 12 tỷ viên, năm 2007 sản lượng gạch là 22 tỷ viên. Dự kiến đến năm 2015 là 32 tỷ viên và đến năm 2020 sẽ tăng lên 42 tỷ viên.

Hiện nay tỉnh An Giang có trên 600 cơ sở sản xuất gạch nung với hơn 1695 lò nung các loại trong đó có khoảng 1690 lò thủ công, hàng năm cung cấp cho thị trường khoảng 750 triệu viên gạch nung các loại. Việc sản xuất gạch bằng lò nung thủ công (lò cổ điển) chiếm trên 80% sản lượng, đây là loại lò tiêu hao nhiều nhiên liệu, sử dụng nhiều lao động và gây ô nhiễm môi trường.

Ô nhiễm môi trường do sản xuất gạch đang là vấn đề nổi cộm ở nhiều địa phương mà nguyên nhân chủ yếu là do sử dụng lò thủ công để nung gạch. Theo Quyết định số 115/2001/QĐ-TT ngày 1/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ thì năm 2010 phải  xóa bỏ hết các lò gạch thủ công, nên nhu cầu chuyển đổi sản xuất gạch nung bằng lò thủ công sang các kiểu lò có hiệu quả và năng suất cao, ít ô nhiễm môi trường là rất cần thiết.

Nhằm hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất gạch nung trên địa bàn tỉnh An Giang tiếp cận với các kiểu lò nung gạch có hiệu quả và năng suất cao nhưng lại ít gây ô nhiễm môi trường, trong thời gian qua Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN An Giang (thuộc Sở KH&CN) đã triển khai thử nghiệm và thu thập thông tin về các kiểu lò nung có khả năng ứng dụng tại An Giang nhằm tạo điểu kiện cho các chủ cơ sở có điều kiện lựa chọn kiểu lò nung phù hợp với chủ trương cũng như tình hình sản xuất của cơ sở mình. Qua gần 10 năm thực hiện nội dung này, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN An Giang xin giới thiệu về một số kiểu lò nung có triển vọng, có khả năng thích nghi với điều kiện tỉnh An Giang:

Về công nghệ lò nung gạch hiện nay được phân loại:

Phân loại theo kiểu nung:

– Nung gián đoạn.

– Nung bán liên tục.

– Nung liên tục.

Phân loại theo kiểu buống đốt:

– Nung gạch với buồng đốt di động:

– Nung gạch với buồng đốt cố định:

 

KILN TYPES CÁC KIỂU LÒ GẠCH

 

Hoffman Kiln – INVENTED GERMANY 1858 Kiểu lò nung Hoffman:  do người Đức phát minh năm 1858  Đây là kiểu lò nung theo công nghệ nung liên tục với buồng đốt di động. Lò này được du nhập vào Việt Nam (miền Nam) vào thập niên 60 của thế kỷ 20. Năm 2008 và 2009 tại tỉnh An Giang  (Chợ  Mới) có một số chủ cơ sở đã triển khai xây dựng kiểu lò này nhung do quá trình xây dựng và chuyển giao không được thực hiện một cách nghiêm túc nên đang gặp nhiều khó khăn trong vận hành. These kilns have a large permanent arched masonry and a tall masonry chimney of about 30 metres.Lò Hoffman gồm 2 dãy, mỗi dãy có 11 khoang gạch với 12 cửa đốt (có thể có số khoang và số cửa nhiều hơn). Có 2 phương pháp đốt cơ bản là đốt cửa hông và đốt trên xuống, đồng thời có thể kết hợp cả 2 cách đốt lò này đã được cải tiến bởi nhiều tổ chức và cá nhân để chuyển từ việc đốt củi sang đốt phụ phẩm nông nghiệp (vỏ cà phê, vỏ hạt điều, vỏ đậu phộng, trấu) như hiện nay. Lò Hoffman hiện đang được sử dụng rộng rãi tại Tây Ninh, Bình Thuận vả rãi rác một số tỉnh miền Đông Nam bộ. Qua khảo sát tại Tây Ninh cho thấy nhu cầu nhiên liệu trấu đốt cho 1 kg gạch vào khoảng 150g (tiết kiệm trên 60% lượng trấu) lợi nhuận tăng cao với lò thủ công. Ngoài ra, do sử dụng ít nhiên liệu và sử dụng hiệu quả cao nguồn nhiệt, do đốt liên tục và tuần hoàn, nên giảm lượng khí ô nhiễm thải ra môi trường (giảm trên 70% so với lò thủ công). Đặc biệt, do sử dụng nhiệt triệt để, khói thải tập trung tại một ống khói cao từ 11-15m, chủ động đẩy khói bằng mô tơ quạt, nên dễ xử lý ô nhiễm môi trường.

Chi phí đầu tư: khoảng 1 tỉ đồng/lò công suất 1.000.000 viên/tháng. (sản lượng tương đương 10 lò thủ công)

Ưu điểm: dễ vận hành, sử dụng được nhiều loại nhiên liệu khác nhau như than đá, củi, gas, dầu, phụ phẩm nông nghiệp. Gây ô nhiễm môi trường trung bình, dễ xử lý môi trường. chất lượng gạch sau nung  khá đồng đều, tỉ lệ gạch ống đạt mác 50 trên 85%.

Nhược điểm: cần diện tích mặt bằng lớn; chí phí đầu tư ban đầu lớn; tỉ lệ hao hụt cao khi phải dựng lò không chủ động

 

Tunnel Kiln – INVENTED GERMANY 1877 Kiểu lò Tuynel (lò đường hầm): do người Đức phát minh năm 1877.Most common in developed countries, since their invention tunnel kilns have now become highly automated and are for large brick production. Bricks move mechanically through a long stationary fire zone. Đây là kiểu lò nung theo công nghệ nung liên tục với buồng đốt cố định. Lò này được du nhập vào miền Bắc Việt Nam khoảng thập niên 70 của thế kỷ 20, Đây là dạng lò nung dạng ống trụ hình chữ nhật đặt nằm. Đây là kiểu lò nung liên tục với buồng đốt cố định, gạch mộc được chất trên các xe goòng và lần lượt di chuyển qua một buồng đốt cố định. Kiểu lò này được sử dụng phổ biến nhất ở các nước phát triển và hiện tại lò tuy Tuynel đã được tự động cao và được đánh giá thích hợp cho điều kiện sản xuất công nghiệp và quy mô lớn.

Lượng than đá sử dụng dao động từ 70 – 75g/1kg gạch. Nhiên liệu sử dụng có thể là than đá, khí gas, dầu các loại.

Chi phí đầu tư: khoảng 3,5 tỉ đồng/lò 1.250.000 viên/tháng (sản lượng tương đương 12 lò thủ công)

Ưu điểm: dễ xử lý môi trường; có khả năng tự động hóa cao; chất lượng gạch sau nung đạt có độ đồng đều trung bình, gạch ống đạt mác 50  trên 90%.

Nhược điểm: cần diện tích mặt bằng lớn; chí phí đầu tư ban đầu lớn; tỉ lệ hao hụt cao khi phải dừng lò không chủ động

Kiểu lò Habla: do người Đức Phát minh năm 1927

Đây là kiểu lò nung theo công nghệ nung bán liên tục (có thể vận hành liên tục) với buồng đốt di động. The Habla Zig-Zag Kiln is the most fuel efficient kiln yet invented and the cheapest to build.Kiểu lò này được cải tiến từ lò Hoffman (lò Hoffman có vách ngăn) nên có thể dừng lò khi có sự cố và điều tiết sản lượng dễ dàng. Lửa đốt và hơi nóng được dẫn đi theo đường Zig-Zag nên lượng nhiệt liệu đốt có giảm.

Hiện lòHabla Kiln – INVENTED GERMANY 1927 nung gạch đốt trấu cải tiến đang được thử nghiệm tại huyện Lai Vung, Đồng Tháp (Cơ sở Năm Phương, Cty TNHH Kim Thạch) với công suất 20.000 viên ngày đêm, là một kiểu lò tương tự lò Habla. Qua đánh giá sơ bộ cho thấy, lượng trấu sử dụng dao động 250g – 300g trấu/1kg gạch (tiết kiệm 30% so với lò thủ công)It also has a roof resulting in improved working conditions and longer operational time during monsoon conditions..

Chi phí đầu tư: khoảng 600 triệu đồng/lò 500.000 viên/tháng (Sản lượng tương đương 5 lò thủ công)

Ưu điểm: Chi phí đầu tư trung bình, dễ vận hành, sử dụng được nhiều loại nhiên liệu khác nhau như than đá, củi, gas, dầu, phụ phẩm nông nghiệp. Có thể chuyển sang dạng lò nung bán liên tục, dễ xử lý môi trường, chất lượng gạch sau nung khá đồng đều, tỉ lệ gạch ống đạt mác 50  ( 60< M50< 80%)

Nhược điểm: tiêu hao nhiên liệu cao, gây ô nhiễm môi trường khá cao.

 

The following kilns are most commonly in use today: Kiểu lò Vertical Shaft Kiln – INVENTED CHINA 1958 VSBK ( Vertical Shaft brick kiln hay lò nung liên tục kiểu đứng) Do người Trung quốc phát minh 1958

Đây là kiểu lò nung theo công nghệ nung liên tục với buồng đốt cố định. Lò nung dạng ống trụ hình chữ nhật đặt đứng,Green bricks are loaded into the shaft and therefore must be hauled up a ramp to the top of the kiln. gạch mộc được nạp vào miệng lò từ phía trên và lấy ra ở dưới đáy lò. Lò vận hành dựa trên nguyên lý khí động học nên sử dụng năng lượng rất hiệu quả. Kiểu lò này được xây dựng lần đầu tiên tại Việt Nam (Hưng Yên) vào năm 2001 và áp dụng tại An Giang vào năm 2003 nhưng hoạt động không hiệu quả (do một chủ cơ sở tự xây dựng sau khi đi tham quan mô hình tại Hưng Yên), năm 2005 công nghệ này được Sở KH&CN tỉnh Đăk Lăk chuyển giao về An Giang (xã Mỹ Hội Đông). Hiện tại kiểu lò này đã được nhiều tổ chức KHCN cải tiến nên tương đối hoàn thiện về mặt công nghệ và đạt hiệu quả khá cao, tỉ lệ hao hụt giảm (dao động từ 7 – 5% so với 20 – 30% trong những năm trước 2005); Reasonably fuel efficient however the kiln is limited due to a low throughput.lượng than đá sử dụng với mức 45 – 50g than đá/1kg gạch (giảm 20% so với bản đầu tiên).

Chi phí đầu tư: khoảng 300 triệu đồng/lò công suất 300.000 viên/tháng. (sản lượng tương đương 3 lò thủ công)

Ưu điểm: Chi phí đầu tư ban đầu trung bình, không cần xử lý môi trường, chất lượng gạch sau nung có độ đồng đều cao, lượng gạch ống đạt mác 50 > 80 %.

Nhược điểm: tỉ lệ gạch bể cao >7% và có thể tăng lên vài chục % nếu vận hành không đảm bảo kỹ thuật; khó vận hành; sử dụng duy nhất một loại nhiên liệu là than đáClamp Kiln – ANCIENT TECHNOLOGY – 4,000 BC

Lò nung gạch đốt trấu kiểu Thái Lan: do các giáo sư người Thái nghiên cứu và hoàn thiện vào năm 2000.

Đây là kiểu lò nung theo công nghệ nung bán liên tục với buồng đốt di động. Kiểu lò này được áp dụng lần tiện tại Việt Nam (An Giang) vào năn 2006 Lò được xây theo dạng hình vuông, có bốn buồng đốt, mỗi buồng đốt chứa từ 1800 – 2000 viên gạch ống, thời gian nung cho mỗi buồng từ 8 đến 12 giờ tùy theo loại đất ở khu vực, Hiện lò này đã được cải tiến nâng công suất lên 2500 viên/buồng đốt và lắp đạt thêm hê thông xử lý môi trường nên có thể triển khai áp dụng cho các cơ sở sản xuất với quy mô hộ gia đình. Do đặt thù của lò là tận dụng nguồn nhiệt đầu ra của buồng đốt để sấy gạch mộc ở các buồng kế cận và có thể lấy nhiệt ở buồng làm nguội để sấy nóng không khí trước khi đi vào lò buồng nung. Do đó lò đạt hiệu suất nhiệt khá cao về nhiệt và tiết kiệm nhiên liệu 250g trấu/1kg gạch (tiết kiệm trên 35% lượng trấu so với lò thủ công )

Đặc biệt, do sử dụng nhiệt khá triệt để, khói thải có nhiệt độ thấp (dưới 120oC) và tập trung tại một đầu ra do một quat trung tâm điều tiết nên dễ xử lý ô nhiễm.

Chi phí đầu tư: khoảng 150 triệu đồng/lò công suất 150.000 viên/tháng. (sản lượng tương đương 1,5 lò thủ công)

Ưu điểm: Chi phí đầu tư thấp, dễ vận hành, cần ít diện tích mặt bằng, sử dụng được nhiều loại nhiên liệu khác nhau như than đá,củi vụn, phụ phẩm nông nghiệp. Chất lượng gạch ống sau nung  khá đồng đều, tỉ lệ mác 50 >80%, tỉ lệ gạch bể < 2%.

Nhược điểm:  gây ô nhiễm môi trường trung bình (dễ xử lý môi trường), cần nhiều thời gian bảo trì lò.

It features a long fire zone advanced by a suction fan. The Habla Kiln consumes less fuel, uses less mechanical energy and requires far less capital outlay with almost no maintenance.

Đề xuất đối với các cơ sở sản xuất gạch nung trên địa bàn tỉnh:

Trong quá trình chọn kiểu lò nung cần lưu ý:

1/ Nên xem xét lựa chọn các dạng lò nung liên tục để tiết kiệm chi phí năng lượng như: lò Hoffman, lò VSBK, Tuynel,… Khi chuyển sang các dạng lò này các chủ cơ sở cần quan tâm:

– Nguồn vốn đầu tư khá lớn và cần mặt bằng rộng nên xem xét khả năng hợp tác liên kết của nhiều chủ cơ sở lại với nhau.

– Do là dạng lò nung liên tục nên phải chủ động nguồn gạch mộc và nhiên liệu nung để tránh tình trạng phải dừng lò không chủ động (liên quan đến việc này cần chú ý đến việc đầu tư hệ thống cối ép gạch, sân phơi và trại chứa gạch mộc, kho bãi).

– Khi chuyển sang các dạng lò nung liên tục nhu cầu nguyên liệu tăng cao, khả năng sản lượng gạch lớn nên việc tổ chức lại sản xuất, kinh doanh cho phù hợp và đạo tạo tay nghề cho công nhân cần phải được xem xét.

2/ Nên lựa chọn các nhà chuyển giao công nghệ có kinh nghiệm và uy tín để đảm bảo quá trình chuyển giao đạt hiệu quả cao. (Trong đó cần quan tâm đến vấn đề đào tạo và hướng dẫn vận hành trong chuyển giao công nghệ đặc biệt là phải thực hiện quá trình chuyển giao thông qua hình thức hợp đồng kinh tế). Việc các chủ cơ sở sản xuất gạch tự triển khai công nghệ sau khi tham quan mô hình là việc làm mang nhiều rủi ro và có thể vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

3/ Ngoại trừ Lò nung VSBK (lò nung liên tục kiểu đứng) thì hầu hết các dạng lò còn lại đều cho khí thải chưa đảm bảo tiêu chuẩn môi trường Việt Nam. Nên trong quá trình ứng dụng cần xem xét đến việc thiết kế và lắp đặt hệ thống xử lý khí thải.

4/ Đối với các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ nên ưu tiên lựa chọn các kiểu lò nung bán liên tục như: Lò nung gạch đốt trấu cải tiến (theo kiểu Habla); Lò nung đốt trấu kiểu Thái Lan.

5/ Về lâu dài, việc sử dụng gạch không nung để thay thế dần gạch nung cần được xem xét vì ngày 28/04/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 567/QĐ-TTg của về việc phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020.

 

CÁC DẠNG LÒ NUNG GẠCH HIỆN CÓ TẠI VIỆT NAM

 

Dạng  lò nung Suất đầu tư lò nung

(triệu đồng/ 1triệu viên năm)

Tỉ lệ gạch ống đạt mác 50 Giá thành

1 kg gạch

Chi phí nhiên liệu nung

(đồng)

Tác động

môi trường

Khả năng xử lý môi trường Thích nghi điều kiện tỉnh An Giang Quy mô tối thiểu  có hiệu quả kinh tế

(triệu viên/năm)

Tỉ lệ bể khi nung (%)
Lò thủ công 100 < 60 % 350 140 ++++ Khó + 2 >2
Liên tục kiểu đứng 120 >80 390 110 + Không cần ++ 6 7
Lò nung gạch đốt trấu kiểu Thải Lan 100 >80 360 120 ++ Dễ +++ 3 1
LòHabla Kiln – INVENTED GERMANY 1927 nung gạch đốt trấu cải tiến (kiểu lò Habla) 100 ≤ 80 320 100 ++ Dễ +++ 6 0.5
Tuynel 200 >90 400 120 +++ Trung bình ++ 15 0,5
Hoffman 100 >85 280 75 +++ Trung bình +++ 10 0,5

Cơ sở tính toán:

  • Trấu: 300 đ/ kg
  • Than đá: 2.000 đ/kg.
  • Điện: 1000 đ/kg.
  • Chí phí đất, gia công gạch mộc tạm tính như nhau.

5. Công nghệ lò nung mới nhất hiện nay -Lò xoay tuynel, lò di động

Lò xoay Tuynel, lò quay Tuynel, lò đĩa, Tên gọi thế hệ lò nung gạch Tuynel mới và hiện đại nhất hiện nay:
Sử dụng công nghệ mới nhất hiện nay với mức tự động hoá cao bằng hệ thống robot xếp gạch Yaskawa của Nhật và Kuka của Đức. Công nghệ lò nung tuynel mới này có những ưu điểm đặc biệt sau:
– Lò có thể cho mức sản lượng len đến 100-300 triệu viên trên năm
– Lò sử dụng kết cầu thép vững chắc được đặt trên hệ thống ray khép kín có đường kính lớn lên đến hàng 100m
– Lò chạy liên tục bao quanh các khối xếp gạch mộc dược đặt cố định trên mặt sàn của lò nung
– Phần lò nung, sấy thường có chiều dài bằng 2/3 đường kính vòng quay, một đầu nhận gạch mộc một đầu thu gạch thành phẩm
– Thời gian thi công lò gắn hơn các loài lò Tuynel khác, với chi phí vận hành và bảo trì thấp
– Lò được thiết kế rất thân thiện với môi trường dễ đang tạo cảnh quan khuân viên đẹp như công viên
– Do lò có mức tự động hoá cao nên vận hành rất dễ dàng, tiết kiệm nhiên liệu và nhân công phục vụ

Nhà máy gạch sử dụng công nghệ lò tuynel di động,  được xây dựng hệ thống quy phạm về vận hành, đồng thời được tiến hành đào tạo công nhân vận hành theo quy trình. Công tác tiến hành duy tu, bảo dưỡng, kiểm tra thiết bị định kỳ,  và xử lý sự cố kịp thời nếu có.

TƯ VẤN CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ ROBOT XẾP GẠCH VÀ LÒ TUYNEL  ĐI ĐỘNG, LÒ TUYNEL LẮP GHÉP

Tư vấn cấp, chuyển đổi và xây mới dự án nhà máy sản xuất gạch tuynel bằng công nghệ mới nhất. Sử dụng hệ thống robot xếp gạch và hệ thồng lò xoay di động tiên tiến nhất hiện này.

Đi đầu về chuyển giao công nghệ robot xếp gạch và công nghệ lò xoay di động tuynel tại Việt Nam

Cam kết mang lại cho khách hàng- chủ đầu tư công nghệ mới nhất, thiết kế mới nhất, hiệu quả đầu tư cao nhất, dịch vụ sau bán hàng tốt nhất

Cam kết bảo hành, bảo trì, cung cấp thiết bị chính hãng 24/7 trên khắp Việt Nam. Cung cấp và xử lý các sự cố bảo hành trong vòng 24h với đội ngũ kỹ thuật lành nghề

QUÝ KHÁCH QUAN TÂM ĐẦU TƯ MỚI HOẶC NÂNG CẤP CHUYỂN ĐỔI SANG CÔNG NGHỆ TUYNEl

LIÊN HỆ TƯ VẤN NGAY HOẶC ĐỂ LẠI SỐ ĐIỆN THOẠI CHÚNG TÔI SẼ GỌI LẠI NGAY!!!

CTY TNHH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ H.I.S

Hotline:0989.382.888-0926.73.6886

DC: 29 Lạc Trung, Vĩnh Tuy, Hai Ba Trưng, Hà Nội

Web: http://robotxepgach.com/

Mail:info.hisgroup@gmail.com

Face:facebook.com/robotxepgach

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *